Chuyển động thị trường

Hiệp định TPP: Làm sao để ngành chăn nuôi không thua trên sân nhà!

Ngành chăn nuôi của chúng ta chưa đủ mạnh để có thể xuất khẩu, nhưng sắp tới ngay cả thị trường trong nước cũng sẽ bị lấn át nhiều sau khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại.

Việc chăn nuôi nhỏ lẻ khiến cho tính liên kết gần như không có trong ngành chăn nuôi của Việt Nam. Ảnh: NT.

Đó là nhận định của các chuyên gia kinh tế cũng như các chuyên gia trong ngành chăn nuôi tại Diễn đàn chính sách nông nghiệp số 04: Đánh giá tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) lên ngành chăn nuôi tại Việt Nam do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) tổ chức.

Tồn tại hay không tồn tại?

Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Kinh tế trưởng VEPR nhận định, chăn nuôi không phải là ngành có lợi thế của Việt Nam. Đây là ngành còn bộc lộ quá nhiều yếu kém khi quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu dựa vào chăn nuôi hộ gia đình nên sức cạnh tranh kém, giá thành cao. Ngoài ra, việc phụ thuộc quá nhiều vào thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, cũng như vấn đề tuân thủ quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là điểm trừ đối với ngành chăn nuôi Việt Nam.

Riêng ngành chăn nuôi bò sữa, theo thống kê của VEPR, hiện cả nước có khoảng 20.000 hộ chăn nuôi bò sữa quy mô nhỏ chỉ khoảng 3-4 con/hộ. Số hộ nuôi trên 50 con/hộ chỉ chiếm chưa đầy 1%.

“Việc chăn nuôi nhỏ lẻ dẫn đến thiếu sự liên kết giữa các hộ, các HTX kiểu mới còn khá ít và không có tư cách pháp nhân nên hầu như không giúp được nông dân tăng khả năng đàm phán. Nhà nước đã có chính sách khuyến khích chăn nuôi quy mô lớn áp dụng công nghệ cao, nhưng thủ tục còn bất cập nên việc triển khai còn chậm,” bà Nguyễn Thị Thu Hằng nói.

Theo ông Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR, các nước thuộc khu vực TPP như Mỹ, Úc, New Zealand có nền nông nghiệp rất mạnh, do họ chăn nuôi với quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao và có sự tự chủ về giống cũng như nguồn thức ăn. Vì thế khả năng tác động làm thay đổi cấu trúc thị trường trong TPP.

Để khắc phục những bất cập trong ngành chăn nuôi hiện nay, ông Nguyễn Đức Thành cho rằng cần rất nhiều đến sự nỗ lực từ nhiều phía. Cấu trúc chung của thị trường chăn nuôi hiện nay rất nhỏ lẻ, tập trung ở các hộ gia đình là chính, sự tham gia của doanh nghiệp vào ngành này vẫn còn khá lạ lẫm, trong khi chính doanh nghiệp mới có vai trò quyết định trong tiêu thụ sản phẩm cũng như kết nối nguồn lực.

“Rất tiếc các doanh nghiệp của chúng ta còn rất nhỏ, lại chịu sự chi phối của nhà nước, phản ứng một cách chậm chạp trước những biến động liên tục của thị trường, chưa kể cấu trúc về sở hữu đất đai khi chưa chuyển đổi hết các nông trường cũ,” ông Nguyễn Đức Thành nói.

Về cấu trúc thị trường kinh doanh, chúng ta chưa tự chủ được đầu vào và ngày càng bị lấn át bởi các doanh nghiệp nước ngoài như Trung Quốc hay Thái Lan. Điều này dẫn đến giá thành sản phẩm cao, làm giảm đi tính cạnh tranh của sản phẩm.

Với TPP, nền kinh tế đứng trước cơ hội thay đổi tốt hơn nhưng nếu không có sự chuẩn bị tốt nhất chúng ta sẽ phải đương đầu với rất nhiều khó khăn. Riêng với ngành chăn nuôi, không chỉ người nông dân mà ngay cả doanh nghiệp trong ngành cũng không có nhiều thông tin về TPP và cũng không nắm bắt được sự biến động của thị trường.

“Ngại nhất là chính sách”

Theo ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, trong 11,3 triệu hộ nông dân hiện nay, có 7 triệu hộ chăn nuôi lợn và 4 triệu hộ chăn nuôi gà. Khi TPP được thông qua, lượng thịt đông lạnh nhập khẩu sẽ càng rẻ và nhiều hơn, nếu người tiêu dùng ưa chuộng thịt nhập khẩu, sẽ có hàng triệu lao động nông dân không có việc làm.

Ông Lê Bá Lịch đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Chúng ta có dịch cúm H5N1, Thái Lan cũng có cúm H5N1, vậy tại sao họ lại thu được 4 tỷ USD mỗi năm từ xuất khẩu gà? Tại sao chăn nuôi của Mỹ cũng phải đối mặt với hàng loạt dịch bệnh, nhưng sản phẩm của họ vẫn luôn tốt nhất? Không một nước nào trên thế giới có thể chăn nuôi gà với giá thành dưới 1 USD/kg, vậy tại sao đùi gà Mỹ nhập khẩu chỉ có 20.000 đồng/kg? Liệu có yếu tố gian lận thương mại gì ở đây không?”

Ông Lể Bá Lịch cho rằng bên cạnh cấu trúc ngành còn bất cập, doanh nghiệp và người nông dân còn gặp khó khăn khi tiếp cận vốn vay, cộng với lãi suất cho vay từ các tổ chức tín dụng cao (gấp 4 lần Thái Lan và gấp 2 lần Trung Quốc) cũng đã làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Ngoài ra, mỗi năm chúng ta nhập khẩu 17 triệu tấn thức ăn chăn nuôi và 11,3 triệu tấn nguyên liệu sản xuất thức ăn, việc không chủ động được nguồn thức ăn càng khiến cho giá thành sản phẩm trở nên cao hơn so với các nước khác.

Còn ông Trần Duy Khanh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam, đặt câu hỏi và tự trả lời: “Tại sao gà thịt trong nước đắt hơn gà nhập khẩu? tất cả là do chính sách hết. Có mấy trăm ông đại gia buôn đất thì nhà nước bỏ ra 30 nghìn tỷ để cứu, trong khi hàng triệu hộ nông dân đang gặp khó trong chăn nuôi lại không được cứu”.

Ông Khanh lấy dẫn chứng về sự bất cập trong chính sách thuế khi gà nhập khẩu nguyên con phải chịu thuế 40%, nhưng nếu cắt rời ra chỉ phải chịu thuế 20%. Chính sách này khiến các doanh nghiệp nhập khẩu chỉ cắt bỏ mỗi cái đầu gà để được hưởng thuế suất 20%. Ngoài ra hàng năm có hàng trăm nghìn đùi gà nhập lậu mà chúng ta không kiểm soát hết được.

Để tìm lối ra cho sản phẩm cũng như thích ứng với từng thị trường, ông Khanh đề xuất ý tưởng nên mạnh dạn cắt riêng ức gà ra để xuất khẩu sang thị trường Mỹ, phần còn lại để bán cho thị trường trong nước, bởi người Mỹ họ thích ăn ức gà và không có thói quen ăn đùi và cánh gà như người Việt Nam.

Nói đến mục tiêu xuất khẩu, ông Lưu Bích Hồ, Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, cho rằng chưa cần đặt mục tiêu xuất khẩu, để thích ứng với TPP thì mục tiêu trước mắt của chúng ta làm sao để không thua trên sân nhà.

Thịt, sữa nhập khẩu từ Úc, New Zealand, Mỹ đang ồ ạt nhập khẩu vào Việt Nam, chúng ta đừng để thua ngay trên sân nhà. Để không thua trển sân nhà, chúng ta phải cố gắng nâng cao được chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, thứ hai là giá cả, thứ ba là tiếp cận thị trường. Đương nhiên, điều quan trọng là phải có chuỗi cung ứng giá trị. Đây là điều gây bức xúc nhất trong ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng. Trong chuỗi đó, hệ thống đổi mới sáng tạo gồm DN, người nông dân, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các bộ phận liên quan như ngân hàng,” ông Lưu Bích Hồ đề xuất.

Nhìn nhận về khả năng cạnh tranh của ngành sữa ông Lưu Bích Hồ cho rằng TH true Milk là thương hiệu đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu và có khả năng xuất khẩu. Tuy nhiên, sản phẩm của TH true Milk là sữa tươi sạch nên thời gian bảo quản không được dài do đó khả năng xuất khẩu của TH true Milk là hạn chế.

Tuy nhiên, ông Trần Kim Chung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, cho rằng, một thương hiệu trong nước mạnh như TH true Milk cũng vẫn phải nhập khẩu công nghệ của Israel và nhập khẩu bò sữa từ New Zealand. Do vậy, cần phải làm rõ các doanh nghiệp cạnh tranh những gì.

Những thách thức của hội nhập đã bộc lộ hàng loạt yếu kém tồn tại từ nhiều năm trong ngành chăn nuôi. Chúng ta đã xây dựng một thị trường không có yếu tố hỗ trợ. Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, trong khi các doanh nghiệp tư nhân muốn tham gia thị trường lại chưa có đủ sự hỗ trợ về mặt thể chế để có thể phát triển như mong muốn.

Một số ngành đã có sự tiến bộ khi có những doanh nghiệp tư nhân lớn được hình thành và cung ứng đầu vào sản phẩm, tiêu biểu là ngành lúa gạo. Trong khi đó, ngành chăn nuôi phải cạnh tranh hết sức khốc liệt và có khuynh hướng bị thu hẹp.

Theo ông Nguyễn Đức Thành, ngành chăn nuôi không có được sự thuận lợi như các ngành khác trong cùng lĩnh vực nông nghiệp. Nếu muốn tồn tại và phát triển, cần có sự cải cách sâu rộng, cải cách từ khâu sản xuất của người nông dân cho đến các doanh nghiệp tham gia ngành. Nếu không tổ chức lại thị trường, chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.


Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Xem thêm bình luận
Tin khác