Kinh tế vĩ mô

Tại sao Việt Nam cần phải hội nhập?

Bên cạnh những thách thức thì hội nhập đem lại nhiều cơ hội lớn cho Việt Nam, nhất là cho cộng đồng doanh nghiệp.

Hội nhập là cách để chúng ta thay đổi mọi mặt, trong đó có sản xuất nông nghiệp.

AEC đã ở rất gần

Chỉ còn vài ngày nữa, ngày 31/12/2015, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ chính thức được hình thành. AEC được xây dựng dựa trên 4 trụ cột chính gồm: Thị trường chung và không gian sản xuất thống nhất; Một khu vực kinh tế cạnh tranh; Phát triển kinh tế đồng đều; Hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.

Đây cũng là thời điểm đánh dấu tròn 20 năm Việt Nam gia nhập ASEAN và thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN. Như vậy, chúng ta đã chính thức hội nhập từ năm 1995, đã giảm thuế cho các nước ASEAN, đã mở cửa được 15 năm đối với dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nhờ đó mà lớn mạnh dần lên.

Theo số liệu thống kê cập nhật đến ngày 15/12 của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 11 tháng năm 2015, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên ASEAN đạt 16,83 tỷ USD (chiếm 11,35% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của cả nước).

Ở chiều ngược lại, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam từ các nước thành viên ASEAN đạt 21,68 tỷ USD; bằng 14,35% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước trong 11 tháng năm 2015.

Quan hệ thương mại tự do giúp xuất khẩu tăng mạnh nhất khi đủ 2 yếu tố: Thứ nhất, chúng ta có những gì đối tác không có, đối tác có những gì chúng ta không có, hay còn gọi là cơ cấu xuất nhập khẩu bổ sung cho nhau;  thứ hai, dung lượng thị trường tính theo sức mua lớn.

AEC không chỉ đáp ứng đủ hai tiêu chí trên mà còn giúp kết nối các nền kinh tế trong khu vực thông qua kết nối FTAs.  Với doanh nghiệp nằm ngoài ASEAN, việc đầu tư vào một trong các nước ASEAN là sẽ có khả năng tiếp cận các nước còn lại trong khối ASEAN và các nước lớn trong khu vực.

Với AEC, Việt Nam được đánh giá là nước nắm nhiều lợi thế bởi tiêu chí hàng đầu của các nhà đầu tư khi đầu tư vào các nước ASEAN là phải có đất đai, có nguồn lao động dồi dào, có cơ sở hạ tầng ổn định, và có sự ổn định chính trị. Xét theo các tiêu chí này, Việt Nam là một trong số ít các nước trong khu vực đáp ứng đầy đủ các tiêu chí.

Hội nhập, bao nhiêu cho đủ?

Năm 2015 được coi là một năm đầy sôi động của Việt Nam trên tiến trình hội nhập, chúng ta đã đàm phán ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với các quốc ga và khu vực, trong đó có các hiệp định với các thị trường quan trọng như:  FTA Việt Nam – Hàn Quốc (VK FTA);  FTA với Liên minh kinh tế Á – Âu (EEU FTA) bao gồm các nước Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia, Kyrgyzstan; FTA Việt Nam – EU (EV FTA).

Đặc biệt, đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng đã kết thúc, mở ra cơ hội cho doanh nghiệp và người dân.

Cũng giống như với AEC, đàm phán các FTA và TPP cũng dựa trên nguyên tắc hàng đầu là cơ cấu xuất khẩu bổ sung và dung lượng thị trường tính theo sức mua.

Với vị trí địa lý gần gũi, Việt Nam đã gắn bó với các nước Đông Á ngay từ khi mở cửa nền kinh tế. 70% nhập khẩu và 50% xuất khẩu đến từ khu vực này. Sự phụ thuộc vào một khu vực thị trường là cực kỳ rủi ro cho Việt Nam.

Bài học của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã nhắc nhở Việt Nam về một sự đa dạng hóa trong quan hệ thương mại. Khi đó, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam giảm từ 28% xuống chỉ còn 1,9%,  mức sụt giảm thê thảm khi khủng hoảng tài chính diễn ra, đó cũng là thời điểm chúng ta nhận ra rằng sự phụ thuộc vào một thị trường nào đó sẽ nguy hiểm như thế nào.

Theo nhận định của bộ Công Thương, cần phải đa dạng hóa thị trường, nhưng để đa dạng hóa hiệu quả chỉ bằng cách quan hệ với các thị trường lớn. Đó là lý do vì sao Việt Nam FTA với Nga, EU, và có TPP, để không bị chông chênh nếu khu vực nào đó bị khủng hoảng.

Với TPP và các FTA, Việt Nam càng được hưởng lợi hơn trong việc cạnh tranh thu hút đầu tư với các nước ASEAN. Dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam sẽ không còn chảy vào lĩnh vực phi sản xuất như bất động sản, thay vào đó là những ngành công nghệ cao.

Các chuỗi sản xuất bắt đầu dịch chuyển vào Việt Nam như LG, Samsung, Microsoft  và sắp tới có thể là Apple.

Bên cạnh luồng dư luận tỏ ra hồ hởi với các cơ hội do hội nhập mang lại, cũng có nhiều ý kiến tỏ ra hoài nghi, lo ngại cho Việt Nam, nhất là khi chúng ta chưa có sự chuẩn bị tốt về chất lượng nguồn nhân lực, bản thân các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn quy mô còn nhỏ, sức cạnh tranh của hàng hóa chưa cao. Thậm chí, các ý kiến này còn dẫn chứng về những hệ quả Việt Nam phải gánh chịu kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

Tuy nhiên, theo ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng bộ Thương mại, những đóng góp do WTO mang lại cho Việt Nam là rất lớn và thầm lặng, đáng chú ý nhất là đóng góp trong thay đổi thể chế.

Nếu như  trước năm 2007, doanh nghiệp và người dân không có cơ hội góp ý chính sách, nhưng theo cam kết WTO, Chính phủ và các bộ ngành buộc phải công khai các dự thảo về chính sách có ảnh hưởng đến doanh nghiệp và người dân trước khi ban hành tối thiểu 60 ngày. Đó là lý do vì sao các bộ, ngành phải công khai đăng tải các dự thảo về Thông tư, Quyết định... trên website.

Trước năm 2007, không ai phàn nàn về hội nhập, nhưng việc gia nhập WTO đúng đỉnh điểm của nền kinh tế bong bóng toàn cầu. Hệ quả của dòng vốn đầu tư vào Việt Nam khiến cho nền kinh tế chưa đủ sức để hấp thụ, luồng tiền không tìm được cơ hội đầu tư trong nền kinh tế thật nên phải đầu tư vào kinh tế ảo là chứng khoán, bất động sản.

Bong bóng phình to vì luồng tiền không biết chạy đi đâu, khi chứng khoán vỡ chưa đủ nên vỡ sang bất động sản, hệ quả là các ngân hàng lãnh đủ vì trước đó ngân hàng đã dồn sức cho vay bất động sản khi lợi nhuận mang lại là quá lớn.

Khi bong bóng vỡ, chúng ta lại đổ lỗi cho hội nhập kinh tế quốc tế, điều này là không sòng phẳng đối với hội nhập. Với những doanh nghiệp vượt qua được khủng hoảng, họ đã lớn mạnh hơn và chắc chắn đã rút ra được bài học cho riêng mình.

Nhờ có WTO, chúng ta đã rõ hơn các khái niệm về thương mại, hàng hóa, dịch vụ và nguyên tắc cơ bản của tự do hóa thương mại, đó là không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước hay ngoài nước. Lần đầu tiên doanh nghiệp biết thế nào là bảng giá tính thuế tối thiểu của Hải quan, lần đầu tiên không còn giấy phép xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp. WTO coi quyền xuất nhập khẩu của doanh nghiệp là đương nhiên.

Trước đó, vào năm 2000, lần đầu tiên doanh nghiệp biết thế nào là sở hữu trí tuệ sau khi Việt Nam và Hoa Kỳ ký Hiệp định thương mại song phương.

Thách thức bị thổi phồng

Thách thức về sức ép cạnh tranh là có, trong số đó nông nghiệp, đặc biệt là mặt hàng thịt gà và thịt lợn sẽ gặp khó khăn lớn nhất. Thực ra, không phải chỉ đến khi gia nhập TPP chúng ta mới giảm thuế nhập khẩu cho các mặt hàng này. 20 năm trước, khi gia nhập ASEAn, Việt Nam đã giảm thuế nhập khẩu cho các nước trong khối ASEAN.

Sai lầm của các doanh nghiệp Việt Nam khi gọi quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm của các nước khác là hàng rào. Họ chỉ muốn bán sản phẩm chất lượng kém như vẫn bán trong nước.

Phải mất bao nhiêu thời gian và công sức đàm phán mới được phép xuất khẩu thanh long sang thị trường Australia, nhưng chỉ được lô hàng đầu tiên, đến lô thứ hai là bị phát hiện không đảm bảo an toàn.

Với các nước, quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm đó không phải hàng rào, đó đơn giản chỉ là biện pháp bảo đảm an toàn cho con người.

Theo xu hướng chung, sản xuất manh mún tự nó sẽ bị diệt vong mà không cần đến hội nhập. Mô hình hợp tác xã hay doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn lớn sẽ không dám đánh đổi uy tín của mình để làm ra sản phẩm bẩn, có hại cho sức khỏe người tiêu dùng. Đó là sự tiến bộ của xã hội.

Đã đến lúc các doanh nghiệp coi chống bán phá giá là một phần của cuộc chơi. Thực tế những vụ kiện chống bán phá giá không làm ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Khi là cuộc chơi thì phải bình đẳng, bởi Việt Nam cũng áp dụng quy chế này.

Chúng ta vẫn nói rằng doanh nghiệp Việt Nam yếu nên sẽ không tận dụng được ưu đãi, nền kinh tế có sức cạnh tranh yếu sẽ bị thua thiệt. Nhưng nhìn rộng ra, các quốc gia tham gia đàm phán TPP luôn rỏ ra e ngại trước những thế mạnh của Việt Nam. Chẳng hạn như Mexico rất ngại cạnh tranh với cà phê, gạo, thủy sản, hạt điều của Việt Nam. Hoa Kỳ cũng e ngại đối với mặt hàng dệt may và giày dép của Việt Nam. Đó là những mặt hàng giúp cho xuất khẩu Việt Nam có những bước tăng trưởng thần kỳ.

Với hội nhập, cơ hội là rất nhiều, vấn đề ở chỗ doanh nghiệp có nắm bắt được cơ hội hay không. Nike muốn hiện đại hóa hệ thống sản xuất ở Việt Nam nhưng họ không tìm được nhân lực để đáp ứng nhu cầu, các doanh nghiệp chế biến gỗ quốc tế cũng muốn đầu tư vào Việt Nam nhưng chúng ta thiếu kỹ sư trong công nghệ CNC, Intel cũng rất muốn đầu tư vào Việt Nam nhưng còn vướng rào cản về nhân lực.

Hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có nhân lực giỏi để tạo ra một khung khổ, doanh nghiệp nào đi trước một bước, đáp ứng tiêu chuẩn của hội nhập, doanh nghiệp đó sẽ thành công.

Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Xem thêm bình luận
Tin khác