Ngân hàng

Cạnh tranh về công nghệ, sức ép lớn của ngân hàng Việt!

Cung cấp các sản phẩm dịch vụ mới là xu hướng của các ngân hàng, nhưng quản trị rủi ro trên nền tảng công nghệ cũng là yêu cầu bắt buộc.

Tại hội thảo Triển lãm Banking Vietnam 2015 vừa diễn ra tại Hà Nội với chủ đề “Giải pháp đột phá phát triển dịch vụ ngân hàng Việt Nam trên nền tảng công nghệ hiện đại”, các diễn giả đã chỉ ra rằng, sự thay đổi nhanh chóng, cập nhật của công nghệ đang gia tăng sức ép cho ngân hàng Việt Nam do phải nhanh chóng đưa ra các sản phẩm mới trên thị trường để đáp ứng thị hiếu của khách hàng và tăng sức cạnh tranh. Trong thời đại công nghệ, yêu cầu để triển khai một dịch vụ mới, từ khâu ý tưởng cho đến khâu hoàn thành có khi chỉ vài tháng.

Theo ông Đào Minh Tuấn, Phó TGĐ Vietcombank, điều này đồng nghĩa với áp lực càng gia tăng khi ngân hàng vẫn phải đảm bảo rằng việc phân tích rủi ro và an toàn giao dịch đã được tiến hành đầy đủ trước khi đưa sản phẩm vào thị trường.  

Hơn nữa, trước sức ép cạnh tranh, ngân hàng có xu hướng “bắt tay” với bên thứ ba như nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, công ty cung ứng dịch vụ cổng thanh toán, công ty phát triển các ứng dụng công nghệ. Điều này có thể dẫn đến việc ngân hàng bị ảnh hưởng do lỗ hổng bảo mật hoặc rủi ro đạo đức nghề nghiệp từ các đối tác này.

“Kênh giao dịch truyền thống của các ngân hàng là quầy giao dịch đang dần bị thay thế bởi kênh giao dịch mới là ngân hàng điện tử. Người ta quan tâm đến sự đồng nhất và sự cam kết chất lượng dịch vụ. Nó không chỉ đơn thuần là công nghệ mà còn là chính sách, đằng sau đó là giá trị của ngân hàng về chính sách và công nghệ, thể hiện sự đồng nhất, cần thấy được sản phẩm nào cần đưa ra để đồng nhất về tính năng, giao diện, kênh phân phối”, ông Đào Minh Tuấn nói.

Tính ưu việt của phương thức giao dịch trực tuyến hoặc giao dịch tự động đặt ra bài toán mới cho việc quản trị quan hệ khách hàng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các khách hàng ngày càng có yêu cầu cao đối với dịch vụ tài chính. Do nhu cầu về thanh toán, kiểm soát luồng tiền đã được “internet hóa” nên ngân hàng ít có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Đây cũng có thể coi là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro khi ngân hàng không được thu thập thông tin thường xuyên về khách hàng.

Theo ông Vũ Mai Tùng, Giám đốc khối CNTT, Ngân hàng Phương Đông (OCB), có 3 yêu cầu thay đổi đối với hệ thống ngân hàng hiện nay gồm: Chính sách, sản phẩm, tiến trình thực hiện. Để đảm bảo an toàn hệ thống, ngân hàng cần thay đổi hạ tầng CNTT, thu thập thông tin khách hàng.

Ông Tùng nhận định mobile banking sẽ dần thay thế internet banking.  Do vậy,  các ngân hàng phải suy nghĩ về trải nghiệm của khách hàng ngay khi thiết kế hệ thống, đảm bảo việc phục vụ cho khách hàng, đảm bảo sự thông suốt giữa các kênh.

Còn ông Tony Ohlsson, Giám đốc Tài chính, Truyền thông & Bán lẻ Quốc tế, Ngân hàng Teradata, lại cho rằng, để tránh rủi ro, ngân hàng cần phải nói không với các khách hàng có sở hữu chéo, đồng thời thương xuyên có những phân tích rủi ro.

“Nguy hiểm nhất là với dự án vay vốn lớn mà các khách hàng có sự sở hữu chéo rất tinh vi.  Vốn vay có thể qua các công ty liên kết để sử dụng cho mục đích khác. Quản lý rủi ro rất quan trọng, ngân hàng cần tập trung nền tảng dữ liệu, đơn giản hóa việc thu thập dữ liệu và quy trình tài chính, tiến hành phân tích dữ liệu  về khách hàng thường xuyên, theo định kỳ. Ngoài ra, còn phải tiến hành phân tích thị trường, xây dựng thông tin cho ngân hàng mình”, ông Tony Ohlsson nói.

Ông Mohit Singh, Cố vấn giải pháp cấp cao, Công ty Công nghệ Nucleus Softwave cho hay, ngân hàng giống như một quả bóng pha lê có liên quan đến khoản cho vay. Nguyên tắc là chỉ cho vay đối với khách hàng được đánh giá là “tốt” và phải biết nói không với những khách hàng yếu kém. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những ngân hàng lớn vẫn bị sập bẫy rủi ro.  Các ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề này.

”Các ngân hàng nước ngoài sẽ đến Việt Nam và chiếm hết thị phần cho vay vì họ có nền tảng công nghệ tốt hơn. Để tăng tính cạnh tranh, các ngân hàng Việt Nam phải đảm bảo sự tăng trưởng và kiểm soát được rủi ro. Trong bối cảnh này, phải giảm bớt rủi ro và nợ xấu là vấn đề sống còn của ngân hàng”, ông Mohit Singh nói.

Cũng theo ông Mohit Singh, điểm mạnh của Việt Nam là thị trường còn nhiều tiềm năng cho hoạt động bán lẻ, các khách hàng trẻ sính công nghệ nên yêu cầu cũng cao hơn, do vậy, ngân hàng cần có năng lực để đưa ra tín dụng tốt hơn, phải biết phân biệt khách hàng tốt hay xấu, nếu không sẽ gây tổn hại cho chính ngân hàng. Đồng thời phải có năng lực, thường xuyên nắm bắt hồ sơ các khoản cho vay, tính toán được các khoản vốn hiện có, hiệu quả là cung cấp đầy đủ vốn cho bên vay.

Để làm được điều này, ngân hàng phải phân tích rủi ro và xếp hạng tín dụng nhằm quản lý và nhận diện rủi ro. Có hai phương diện liên quan là bên vay và bên cho vay, cần phải nói không với khách hàng  xấu, xác suất về nợ xấu quá hạn, thu thập thông tin bên vay (tuổi, nơi công tác, đạo đức,…)

“Đối với khách hàng là doanh nghiệp, cần nắm rõ báo cáo tài chính cũng như hệ thống quản lý rủi ro của doanh nghiệp đó, cần phân tích tính cạnh tranh và rủi ro kinh doanh của DN ấy ra sao, đối tác của họ là ai, tầm quan trọng của ngành hoạt động mà DN đó đang theo đuổi. Bản thân khoản vay đó, khách hàng phải có bảo lãnh, thế chấp, phải hiểu được giá trị đích thực của khoản vay và khoản thế chấp”, ông Mohit Singh nói.

Tuy nhiên, để chống rủi ro không chỉ nhìn vào định lượng mà còn phải nhìn vào định tính. Nếu DN thanh khoản thấp, không có khả năng xử lý nợ xấu thì rủi ro sẽ cao, dẫn đến nợ quá hạn hoặc không trả được nợ. Theo khảo sát, khách hàng thuộc lứa tuổi từ 28-45 tuổi có khả năng trả nợ cao hơn.

Đồng tình với các ý kiến trên, ông Tony Ohlsson cho rằng, vấn đề là dữ liệu của các công ty và cá nhân, nhưng phân tích rủi ro phải có đủ dữ liệu, dữ liệu đó có được cập nhật thường xuyên hay không.

Là người hiểu rõ nhất về hoạt động của các Ngân hàng Việt, ông Đào Minh Tuấn cho biết hầu hết các ngân hàng đều đã có giải pháp hoàn thiện công cụ quản lý rủi ro, nhưng dữ liệu hoặc quá ít, hoặc quá nhiều. Vấn đề thứ hai là chất lượng dữ liệu, trong môt thời gian dài các nhân hàng chạy theo dịch vụ mà không quan tâm đến hệ thống phân tích rủi ro.

“Cần xem xét mức độ thông tin cũng như chất lượng thông tin. Cập nhật thường xuyên thông tin vì hành vi của khách hàng có thể thay đổi . Nếu thông tin không đầy đủ, không chất lượng sẽ dẫn đến kết quả phân tích không được chính xác”, ông Đào Minh Tuấn nói.


Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Xem thêm bình luận
Tin khác