Chuyển động thị trường

“Ông lớn” đòi bù lỗ tỷ giá: Liệu có mượn gió bẻ măng?

Các “ông lớn” hiểu rất rõ vai trò độc quyền của mình và hoàn toàn có thể “mượn gió bẻ măng” để tăng giá quá mức cần thiết.

Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều ít nhiều phải nhập khẩu nguyên vật liệu hoặc máy móc thiết bị, rất ít doanh nghiệp sản xuất mà không có yếu tố nhập khẩu. Việc Ngân hàng nhà nước điều chỉnh tỷ giá thời gian qua khiến cho việc nhập khẩu gặp bất lợi do yếu tố tỷ giá. Tính chung từ đầu năm 2015 đến nay, VND đã giảm giá 5% so với USD.

Trước thông tin một số doanh nghiệp lớn hoạt động mang tính độc quyền như EVN, Vinacomin… rục rịch tăng giá sản phẩm đầu ra với lý do bù lỗ tỷ giá, ông Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế và chính sách đã có cuộc trao đổi với báo chí xung quanh vấn đề này.

Trong sản xuất điện, tỷ lệ nhập khẩu là bao nhiêu vẫn là một ẩn số.

Độc quyền hay độc đoán?

Theo ông Nguyễn Đức Thành, cần phải nhìn nhận hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều có yếu tố nhập khẩu, nhưng các doanh nghiệp không thể cùng lúc tăng giá bán sản phẩm đầu ra ngay sau khi tỷ giá được điều chỉnh. Đó là bởi họ không có quyền lực như các doanh nghiệp nhà nước, thay vào đó họ còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành.

“Trong một môi trường cạnh tranh, khi yếu tố đầu vào bị tăng giá, doanh nghiệp không thể ngay lập tức tăng giá sản phẩm của mình bởi họ còn nhìn sang các doanh nghiệp đối thủ. Tuy nhiên, với những doanh nghiệp ngay lập tức đòi tăng giá sản phẩm, đó chỉ có thể là những doanh nghiệp  mang tính độc quyền, họ không phải cạnh tranh với ai cả mà chỉ việc xin phép sự đồng ý của nhà nước,” ông Nguyễn Đức Thành nói.

Điều này thể hiện hành vi của sự độc quyền chứ không phải hành vi của sự cạnh tranh. Thực tế, nếu như có sự cạnh tranh, doanh nghiệp cũng có thể tùy tiện tăng giá bán sản phẩm mà không cần chịu sự kiểm soát của ai. Tuy nhiên, trong một môi trường cạnh tranh thực sự, sẽ không có doanh nghiệp nào dám làm như vậy bởi họ sợ khách hàng rời bỏ mình.

Trong khi đó, các “ông lớn” hiểu rất rõ vai trò độc quyền của mình và hoàn toàn có thể “mượn gió bẻ măng” để tăng giá quá mức cần thiết.

Ông Nguyễn Đức Thành phân tích: “Một thứ hàng hóa được làm ra bởi nhiều nguồn đầu vào khác nhau, những nguồn đầu vào nào phải nhập khẩu bằng ngoại tệ (USD) thì sẽ phải thay đổi theo đúng tỷ giá mới nếu như các hợp đồng đó vẫn được cam kết theo tỷ giá thả nổi. Còn nếu như đã được quy đổi từ trước đó thì cũng không bị ảnh hưởng gì. Giống như mình mua một căn nhà niêm yết bằng USD nhưng khi thanh toán thì thanh toán bằng VND. Những hợp đồng nguyên liệu hàng hóa thanh toán theo tỷ giá thả nổi thì việc tăng giá do tăng chi phí đầu vào là đúng”.

Bên cạnh đó, việc nhập khẩu thiết bị máy móc của doanh nghiệp cũng làm cho chi phí doanh nghiệp tăng theo tỷ giá, nhưng giá trị của máy móc được trả trong hàng chục năm, nên khi tăng là tăng phần của năm, giống như những nguyên liệu khác.

Theo phân tích của ông Nguyễn Đức Thành, từ đầu năm đến nay, VND đã mất giá 5% nhưng không có nghĩa giá thành sản phẩm sẽ tăng lên 5% để bù lỗ tỷ giá, bởi chi phí nằm một phần trong giá thành.

Cụ thể, để làm ra một sản phẩm điện hay bất kỳ sản phẩm nào khác, doanh nghiệp còn phải thuê người lao động trong nước hay những chi phí trong nước khác, đó là những chi phí được trả bằng VND và hiện tại những chi phí đó không thay đổi.

Giả sử chi phí đến từ nhập khẩu chiếm 40% giá thành sản phẩm thì cần nhân với 40% của phần chênh lệch tỷ giá (5% ), như vậy chênh lệch do tỷ giá sẽ là 2%. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có quyền đòi hỏi mức tăng 2% do yếu tố tỷ giá nhưng chỉ là tăng 2%.

Bao giờ cũng vậy, nếu tỷ giá tăng 5% thì mức tăng giá sản phẩm phải dưới 5%, bởi vì không doanh nghiệp nào sử dụng 100% chi phí nhập khẩu cả. Giá trị gia tăng trong nước là tương đối lớn, doanh nghiệp  càng thành công thì tỷ lệ nội địa hóa càng lớn. Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu hết tất cả mọi thứ thì cần phải xem lại bởi trước sau doanh nghiệp  đó cũng chết,” ông Nguyễn Đức Thành phân tích.

Tuy nhiên, phân tích trên chỉ là giả định, cái chính là các doanh nghiệp có muốn minh bạch trong việc cung cấp số liệu nhập khẩu hay không. Bởi với những doanh nghiệp độc quyền, người tiêu dùng hoàn toàn có thể đặt ra câu hỏi: Liệu doanh nghiệp có mượn gió bẻ măng để bù lỗ cho những chi phí khác của họ.

Khả năng này là hoàn toàn có thể xảy ra bởi họ có quyền lực độc quyền. Vấn đề là tỷ lệ nhập khẩu của họ là bao nhiêu để từ đó đưa ra cách tính cụ thể, nhưng dù có tăng mức nào thì cũng không thể vượt mức 5% theo sự mất giá của VND.

Theo ông Thành, nếu như có sự cạnh tranh, doanh nghiệp độc quyền sẽ không dám tăng giá hết mức có thể, họ sẽ phải chấp nhận giảm lợi nhuận. Ngành điện hay ngành than trước đây được trợ giá rất nhiều chứ không vận hành theo cơ chế thị trường. Giả sử ngành than không nhập khẩu gì mà chỉ dùng sản phẩm của ngành điện, trường hợp giả định giá điện tăng 2% thì than hầu như không phải tăng giá bởi giá thành điện ở trong than chỉ khoảng 30% của 2%, tức 0,6% mà thôi.

Trong trường hợp ngành than nhập khẩu máy móc thiết bị nhiều, họ vẫn phải chia khấu hao cho nhiều năm, thậm chí hàng chục năm. Chẳng hạn, doanh nghiệp đang nợ 1 tỷ USD và mỗi năm phải trả 100 triệu USD, trường hợp tỷ giá thay đổi họ cũng chỉ có thể tính chi phí đội lên cho 100 triệu USD chứ không thể nào tính cả cho 1 tỷ USD.

Minh bạch thôi chưa đủ

Về nguyên tắc, các doanh nghiệp có trách nhiệm với bản thân chính doanh nghiệp phải trích lập dự phòng rủi ro tỷ giá, thế nhưng cả EVN và Vinacomin đều không trích lập dự phòng. Những năm trước, các tập đoàn kinh tế nhà nước đua nhau xây sân tennis rồi đầu tư ngoài ngành, khi thua lỗ lại tính hết vào giá thành, coi như người dân cũng phải chịu rủi ro cùng.

Theo ông Nguyễn Đức Thành, minh bạch là cần thiết nhưng vấn đề là nếu chỉ minh bạch thôi thì chưa đủ. Doanh nghiệp cần phải cải cách từ gốc, phải làm tăng tính hiệu quả trong hoạt động. Các tập đoàn kinh tế nhà nước doanh thu rất lớn nhưng luôn kêu lỗ, thực tế là họ lỗ thật, nhưng doanh thu và lợi nhuận thất thoát bao nhiêu, có khi bản thân doanh nghiệp cũng không kiểm soát được.

Trong một nền kinh tế thị trường, độc quyền còn nguy hiểm hơn là không minh bạch, một doanh nghiệp nếu không phải cạnh tranh và không phải minh bạch với người ngoài thì họ vẫn phải hoạt động làm sao hiệu quả nhất. Nếu không, doanh nghiệp sẽ chết, nhưng tự doanh nghiệp đó phải minh bạch với chính mình.

“Đằng này các doanh nghiệp nhà nước không phải lo việc đó, họ biết họ không thể chết được vì Chính phủ và người dân là con tin của chính doanh nghiệp đó rồi. Người dân có thể bị cắt điện chỉ sau 3 ngày không nộp tiền điện, nhưng doanh nghiệp chậm cung cấp điện hay nước cho người dân thì cũng chẳng ai làm gì được bởi họ không chịu sự kiểm soát của ai cả,” ông Nguyễn Đức Thành nói.

Theo ông Thành, có hai công cụ để kiểm soát một doanh nghiệp, thứ nhất là Chính phủ và người dân, thứ hai là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong hai công cụ này, đối thủ cạnh tranh là người kiểm soát tốt nhất. Vì thế, giải pháp bao giờ cũng phải là tăng tính cạnh tranh, trừ lĩnh vực không thể cạnh tranh được như truyền tải điện.

Lấy ví dụ như câu chuyện của Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel. Không phải người dân hay Chính phủ kiểm soát Viettel, chính đối thủ của họ là Vinaphone và Mobifone mới là bên kiểm soát đầu tiên, sau đó mới đến người tiêu dùng. Nhưng để tạo ra sự cạnh tranh này, vai trò của Chính phủ rất quan trọng trong việc tạo ra và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Hiện nay, ngành điện mới chỉ tạo ra sự cạnh tranh trong khâu sản xuất điện. EVN vẫn là đối tác độc quyền mua điện, độc quyền truyền tải điện và độc quyền phân phối điện đến từng hộ gia đình.

Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Xem thêm bình luận
Tin khác