Ngân hàng

Nhìn lại ngành ngân hàng 2015: Điểm nhấn tái cơ cấu!

Theo thống kê của CTCK Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC), ngân hàng là ngành có mức lợi nhuận cao nhất trong số các nhóm ngành trong năm 2015.

 

Tổng lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng trong 3 quý đầu năm đạt 19.193 tỷ đồng, tăng 7,58% so với cùng kỳ năm trước và bỏ xa ngành đứng thứ hai là bất động sản với tổng lợi nhuận sau thuế 3.600 tỷ đồng.

Tính đến 21/12/2015, tăng trưởng tín dụng tăng 17,17% trong khi huy động vốn tính đến 31/10/2015 tăng 6,38%. Đề án tái cơ cấu ngành ngân hàng đã đạt được những kết quả tích cực: tỷ lệ nợ xấu tính đến 30/11/2015 giảm còn 2,72%, nợ gốc lũy kế bán cho VAMC từ năm 2013 đến hết 14/12/2015 là 102.350 tỷ đồng; thanh khoản hệ thống ngân hàng được cải thiện. Kết quả kinh doanh của các ngân hàng khả quan, chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu cao.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất kể từ năm 2011

Tính đến ngày 21/12/2015, tín dụng tăng trưởng 17,17% so với đầu năm, giải ngân 4.652 nghìn tỷ đồng. Trái với diễn biến tăng trưởng tín dụng trong 2 năm 2013 và 2014 (tín dụng tăng chậm/tăng trưởng âm trong các tháng đầu năm và tăng nhanh vào cuối năm), tín dụng tăng trưởng tích cực ngay từ những tháng đầu năm 2015. Điều này cho thấy nhu cầu vay vốn đã bền vững và thực chất hơn. Theo ước tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thì tăng trưởng tín dụng cả năm 2015 đạt khoảng 18%.

Theo BSC, mặc dù thanh khoản của các ngân hàng đã cải thiện, nhưng các ngân hàng vẫn phải chú ý. Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, trong khi đó huy động vốn tăng trưởng chậm lại, chỉ tăng 5,96% so với đầu năm (đạt 5.028 nghìn tỷ đồng, tính đến 30/9/2015). Thứ hai, kỳ vọng đồng USD lên giá làm tăng nhu cầu nắm giữ ngoại tệ.

Tỷ lệ cấp tín dụng/huy động cũng tăng, đạt 88,54% vào 30/09/2015, cao hơn so với thời điểm 31/12/2014 (đạt 83,67%) và cao hơn so với định hướng của NHNN là giảm tỷ lệ cho vay/huy động về dưới 80% đối với các NHTM CP và dưới 90% đối với các NHTM NN.

Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn cũng tăng, đạt 28,48% vào cuối tháng 9/2015, cao hơn so với thời điểm 31/12/2014 (đạt 20,15%). Tuy nhiên, ty lệ này vẫn thấp hơn nhiều so với quy định tại Thông tư 36 (là 60%).

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã thấp hơn nhiều so với giai đoạn căng thẳng thanh khoản từ năm 2009-2012. Tuy nhiên, do áp lực tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh trong năm 2015 (lãi suất qua đêm dao động từ 1,08% đến 4,95%).

Nợ xấu được kiểm soát và phản ánh thực chất hơn chất lượng tín dụng

Theo BSC, tỷ lệ nợ xấu trong 2 quý đầu năm tăng do tác động của quy định phân loại nợ thống nhất theo Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC), kết hợp phân loại nợ theo phương pháp định tính và phương pháp định lượng, đây cũng là thời điểm các ngân hàng chấm dứt việc cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ từ 1/4/2015.

BSC đánh giá, tỷ lệ nợ xấu hiện tại theo báo cáo của các TCTD đã trở về thực chất hơn, về gần với kết quả phân loại nợ theo giám sát của NHNN. Tỷ lệ nợ xấu cuối tháng 11/2015 giảm còn 2,72%. Tính đến hết ngày 30/11/2015, các TCTD đã xử lý được 463 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tương đương 99,6% tổng nợ xấu xác định tại thời điểm tháng 9/2012 thông qua các phương án.

Với phương án bán khoảng 49% nợ xấu  cho VAMC. Tính đến ngày 14/12/2015, VAMC đã mua được 102.350 tỷ đồng nợ gốc nội bảng (phát hành trái phiếu đặc biệt trị giá 93.622 tỷ đồng). Lũy kế từ năm 2013 đến 20/10/2015, VAMC đã mua 228.416 tỷ đồng nợ xấu. Tuy nhiên, giá trị thu hồi nợ chưa cao, đạt 18 nghìn tỷ đồng (chiếm 7,91% nợ xấu đã mua). Hoạt động mua nợ xấu của VAMC có tác động tích cực là cải thiện chất lượng tài sản trên bảng cân đối kế toán của các TCTD, đưa nợ xấu về mức mục tiêu 3%, tuy nhiên, sẽ làm tăng chi phí trích lập dự phòng rủi ro của các TCTD.

Một số ngân hàng niêm yết có số dư nợ xấu bán cho VAMC cao là Ngân hàng BIDV khoảng 28 nghìn tỷ đồng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt nam (CTG) khoảng 9 nghìn tỷ đồng, Ngân hàng STB hơn 7 nghìn tỷ đồng, Ngân hàng EIB gần 7 nghìn tỷ đồng, Ngân hàng SHB khoảng 6 nghìn tỷ đồng và Ngân hàng NVB với hơn 3 nghìn tỷ đồng trên tổng dư nợ 17 nghìn tỷ đồng.

Với tỷ lệ 51% nợ xấu được các ngân hàng xử lý bằng nguồn dự phòng và thông qua cán nợ, xiết nợ. Hoạt động xử lý nợ xấu được các ngân hàng đẩy mạnh trong năm 2015. Dẫn đầu danh sách các NHTM tự xử lý nợ xấu là VCB với 8.400 tỷ đồng, theo sau là các ngân hàng BIDV (4.200 tỷ đồng), MBB (hơn 3.000 tỷ đồng), VPbank (hơn 2.000 tỷ đồng), SHB (1.100 tỷ đồng).

Và tỷ lệ lãi cận biên (NIM) giảm dần. Chênh lệch lãi suất cho vay và huy động trung bình của hệ thống giảm cùng với việc các NHTM thận trọng hơn trong vấn đề giải ngân các khoản vay tiềm ẩn rủi ro đã kéo giảm NIM của nhiều NHTM từ năm 2012-2014. Tính đến hết quý 3/2015, một số ngân hàng niêm yết có NIM (lũy kế 12 tháng) tăng là VCB, MBB, ACB, SHB, EIB.

Tái cấu trúc thông qua “ngân hàng 0 đồng” và M&A

Thương vụ M&A đã được thực hiện trong 4 năm thực hiện đề án tái cơ cấu ngành ngân hàng từ 2011 - 2015, số lượng NHTM giảm từ 42 xuống còn 34 ngân hàng và có thể tiếp tục giảm trong thời gian tới.

Trong năm 2015, NHNN mua lại 3 ngân hàng là VNCB và Oceanbank và GPbank với giá 0 đồng, đặt Ngân hàng Đông Á vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. MHB sáp nhập vào BID theo tỷ lệ 1:1, Ngân hàng Phương Nam sáp nhập vào STB với tỷ lệ 1:0,7, sáp nhập MDBank vào Maritime Bank và đề án sáp nhập ngân hàng PGbank vào CTG với tỷ lệ 1:0,9. Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng cũng hoàn tất hoặc trình phương án mua lại, thành lập công ty con chuyên về tài chính tiêu dùng như VPbank, Techcombank, SHB, MBB,…

Sự phân hóa giữa ngân hàng niêm yết

Kết thúc quý 3/2015, tổng tài sản của các ngân hàng niêm yết đạt 3.076 nghìn tỷ đồng (+10,58% so với đầu năm). Cho vay khách hàng tăng trưởng cao, đạt 2.021 nghìn tỷ đồng (+14,74% so với đầu năm). Một số ngân hàng có tăng trưởng cho vay cao là BIDV (+ 23,47%), SHB (+17,74%) và NVB (+ 16,68%).

Cùng với đà phục hồi của nền kinh tế, tăng trưởng tín dụng khả quan, kết quả kinh doanh của các ngân hàng tích cực trong 9 tháng đầu 2015. Tổng thu nhập hoạt động trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng niêm yết là 41 nghìn tỷ đồng, tăng 73%.

Tuy nhiên, do các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng (chi phí trích lập dự phòng chiếm đến 41% tổng thu nhập trước dự phòng, lên tới 17 nghìn tỷ đồng), lợi nhuận sau thuế chỉ tăng 7,58%, đạt 19 nghìn tỷ đồng.

BID là cổ phiếu có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế cao nhất trong số các ngân hàng niêm yết, tăng 27,81% yoy, theo sau là các ngân hàng VCB (tăng 5,34% so với cùng kỳ năm trước), MBB (tăng 4,62%) và CTG (tăng 4,32%), ACB (tăng 1,8%).

Trong khi đó, một số ngân hàng như NVB (giảm 82,1 8% so với cùng kỳ), EIB (giảm 28,4%), STB (giảm 11,19%) và SHB (giảm 3,4%) lại chứng kiến kết quả kinh doanh suy giảm.

 

Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Xem thêm bình luận
Tin khác
Tin Mới
Tin Nóng