Ngân hàng

Những điểm nhấn của ngành ngân hàng trong năm 2016

Năm 2016, tăng trưởng tín dụng dự báo đạt trên 18%, xử lý nợ xấu tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm của các ngân hàng, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng có thể tăng mạnh.

Theo nhận định của Công ty chứng khoán BIDV (BSC), hoạt động của các ngân hàng Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong năm 2016, dựa trên nền tảng tăng trưởng kinh tế khả quan, hoạt động của các ngân hàng lành mạnh hơn.

Đồng thời, BSC cho rằng, những thành tích tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đã đạt được trong năm 2015 sẽ là nền tảng và động lực để toàn ngành tiếp tục cải cách sâu, rộng hơn cả về chất và lượng, tiếp tục ổn định và lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng.

Tăng trưởng tín dụng 18%

Cùng với đà phục hồi của nền kinh tế, tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và bất động sản, nhu cầu giải ngân vốn tín dụng được dự báo tiếp tục đà tăng trưởng tích cực.  BSC cho rằng, tăng trưởng tín dụng năm 2016 có thể trên 18%.

Vấn đề quan trọng hàng đầu của hệ thống ngân hàng Việt Nam là xử lý nợ xấu, bao gồm cả nợ xấu trong VAMC. Tỷ lệ nợ xấu trong các tổ chức tín dụng đã về mức mục tiêu dưới 3%, tuy nhiên, một lượng lớn nợ xấu đang được gom lại tại VAMC.

Theo BSC, năm 2016 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), VAMC và các ngân hàng thương mại cần tập trung xử lý các khoản nợ xấu đã bán cho VAMC thông qua thanh lý tài sản đảm bảo, bán nợ xấu, mua nợ xấu theo giá trị thị trường và giảm dần mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt,... Hoạt động này, nếu có kết quả tốt, sẽ làm giảm áp lực trích lập dự phòng của các tổ chức tín dụng và giảm nguy cơ nợ xấu quay trở lại hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Chi phí trích lập dự phòng rủi ro tăng cao

Dự phòng rủi ro đối với trái phiếu VAMC cao và tăng mạnh. Với tổng mệnh giá trái phiếu đặc biệt đã phát hành là 202.274 tỷ đồng, tăng 94 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2014, chi phí trích lập dự phòng dự kiến sẽ tăng cao.

Theo quy định hiện tại, các tổ chức tín dụng thông thường phải trích lập dự phòng trong vòng 5 năm và trích lập tối đa 10 năm đối với khoản nợ của tổ chức tín dụng đang thực hiện tái cơ cấu hoặc gặp khó khăn về tài chính. Giả sử mức trích lập là 20% trên mệnh giá trái phiếu đặc biệt, chi phí trích lập dự phòng rủi ro đối với trái phiếu VAMC ước tính khoảng 40 nghìn tỷ đồng, tăng 86% so với năm 2014.

Việc phân loại nợ chặt chẽ hơn theo Thông tư 02 và Thông tư 09 làm bộc lộ nhiều khoản nợ có rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại, làm tăng chi phí dự phòng rủi ro. Vietcombank (VCB) và Ngân hàng Quân đội (MBB) là 2 ngân hàng đã phân loại và trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu tương đối chặt chẽ, tỷ lệ bao nợ xấu cao, tỷ lệ nợ xấu bán cho VAMC tương đối thấp so với các ngân hàng khác. Do vậy, chi phí trích lập dự phòng đối với 2 ngân hàng này có có xu hướng giảm trong thời gian tới.

Nhu cầu tăng vốn chủ sở hữu

Theo lộ trình, đến tháng 2/2016, hiệp ước vốn Basel II sẽ được triển khai thí điểm tại 10 ngân hàng là VCB, BIDV, Vietinbank, ACB, MBBank, Sacombank, Techcombank, VPbank, VIB, và Maritimebank.

Basel II xây dựng các yêu cầu về vốn, quản trị rủi ro chặt chẽ hơn so với Basel I đang được áp dụng trong hệ thống các ngân hàng Việt Nam với 3 trụ cột là: Duy trì vốn bắt buộc, hoạch định chính sách, minh bạch thông tin.

Trong đó, yêu cầu về vốn tối thiểu được tính toán dựa trên 3 yếu tố rủi ro là rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Điều này sẽ làm tăng tổng tài sản có rủi ro của các ngân hàng áp dụng Basel II và làm phát sinh nhu cầu tăng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng này.

Cụ thể, BIDV, VCB và MBB đều đã lên kế hoạch tìm kiếm cổ đông chiến lược, tăng vốn chủ sở hữu trong năm tới. OCB, VPbank và BacABank đều đã được NHNN chấp thuận việc tăng vốn điều lệ.

Áp lực thoái vốn và M&A theo Thông tư 36

Thông tư 36/2014/ TT-NHNN siết chặt sở hữu chéo trong hệ thống các ngân hàng thương mại. Tổng vốn góp mua cổ phần của ngân hàng thương mại vào các doanh nghiệp (bao gồm cả vốn cấp, vốn góp vào công ty con, công ty liên kết) không được vượt quá 40% vốn điều lệ và vốn dự trữ của ngân hàng.

Ngân hàng chỉ được nắm giữ tối đa 2 tổ chức tín dụng khác, trừ công ty con. Lượng cổ phiếu của 1 tổ chức tín dụng mà ngân hàng thương mại nắm giữ không được vượt quá 5% vốn có quyền biểu quyết của tổ chức tín dụng đó. Điều này buộc các ngân hàng đẩy nhanh tiến độ thoái vốn tại các ngân hàng khác, hoặc xử lý sở hữu chéo thông qua M&A. Theo BSC, áp lực thoái vốn có thể tác động lên các ngân hàng STB, EIB, MBB.

Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Xem thêm bình luận
Tin khác
Tin Mới
Tin Nóng