Tiêu dùng

Doanh nghiệp ngoại ôm trọn mảng chăn nuôi?

Thói quen mua các sản phẩm tiêu dùng nói chung của người dân Việt Nam vẫn là từ các nhà bán lẻ theo kiểu truyền thống, mặc dù các kênh bán lẻ hiện đại ngày càng phát triển mạnh.

Người tiêu dùng vẫn giữ thói quen mua thực phẩm tại chợ truyền thống.

"Đại gia" ngoại ôm trọn

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại thời điểm năm 2015, tổng đàn lợn nuôi trên cả nước có 27,1 triệu con, mức tiêu thụ đạt 2,3 triệu tấn.

Số lượng đàn lợn phân bố theo vùng tập tập trung nhiều nhất ở miền Bắc (44%), miền Trung (39%) và miền Nam 17%.

Việc mở rộng quy mô về chăn nuôi lợn kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, thị phần phần lớn tập trung vào tay các đại gia ngoại, trong đó tập đoàn thức ăn chăn nuôi CP (Thái Lan) dẫn đầu với 19% thị phần; Cargil (Hoa Kỳ) chiếm 8%; Proconco (liên doanh Việt – Pháp) chiếm 8%; ANT (tập đoàn đa quốc gia) chiếm 5%; thị phần còn lại thuộc về các hãng khác như: Japfa, CJ Vina Agri, DABACO, Vina, và các hãng khác…

Với một quốc gia có nền nông nghiệp chưa được hiện đại hóa như Việt Nam, các chuyên gia đánh giá ngành chăn nuôi sẽ là yếu điểm của Việt Nam trong cuộc chạy đua chuẩn bị cho một loạt các hiệp định thương mại tự do bắt đầu có hiệu lực.

Tuy nhiên, do không phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập khẩu như các ngành chăn nuôi bò, gà hay ngành sữa, chăn nuôi lợn có những điểm mạnh riêng khi đáp ứng hầu hết nhu cầu tiêu dùng trong nước.

Tuy vậy, ngành này vẫn tồn tại những khoảng trống lớn cần cải thiện trong chuỗi cung ứng, để thịt sản xuất trong nước có thể cạnh tranh được với những nước xuất khẩu thịt heo mạnh trong khu vực như Thái Lan, và cả quốc tế như Mỹ, Úc khi hàng rào thuế quan lần lượt được gỡ bỏ.

Số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, lượng tiêu thụ thịt tăng khá đều qua các năm. Giai đoạn 2008-2014 trung bình tiêu thụ thịt tăng 3,13% mỗi năm. Đáng chú ý, năm 2009 nhu cầu tăng mạnh do sản phẩm thay thế thịt gà gặp bất lợi như chân gà quá hạn và trứng giả nhập khẩu bày bán tràn lan trên thị trường. Riêng năm 2010, tăng trưởng 0% do dịch lợn tai xanh.

Trong thói quen tiêu thụ thịt của người tiêu dùng Việt Nam, thịt lợn vẫn là sản phẩm thịt chủ lực và được dự báo vẫn sẽ chiếm phần lớn trong tổng lượng tiêu thụ. Năm 2009, 71% lượng thịt tiêu thụ là thịt lợn, đến năm 2012 giảm còn 67,6%, dự báo đến năm 2021 còn 65,2%.

Đối với tình hình nhập khẩu, nhập khẩu thịt lợn đã có thời gian ồ ạt do bệnh dịch trên đàn lợn trong nước, nhưng khoảng 3 năm gần đây đã trở lại mức thấp.

Năm 2008, kim ngạch nhập khẩu từ  Mỹ, Tây Ban Nha, Canada phục vụ tiêu dùng trong nước là 22,3 triệu USD, sau đó giảm mạnh giai đoạn 2009-2010, còn 2-3 triệu USD do dịch bệnh, năm 2011 tăng lên 14,7 triệu USD, từ đó đến nay ổn định ở mức 6,7-6,9 triệu USD mỗi năm.

Thói quen mua các sản phẩm tiêu dùng nói chung của người dân Việt Nam vẫn là từ các nhà bán lẻ theo kiểu truyền thống, mặc dù các kênh bán lẻ hiện đại ngày càng phát triển mạnh đặc biệt ở các thành phố lớn nơi mức sống và nhu cầu tiêu dùng chiếm phần lớn trong tiêu dùng toàn quốc.

Có thể thấy, mặc dù giá trị ngành bán lẻ phát triển rất mạnh trong giai đoạn 2009-2014 ở mức trung bình hơn 20% mỗi năm (chưa loại trừ yếu tố giá). Trong đó, tỉ trọng hàng hóa bán ra theo chuỗi bán lẻ hiện đại vẫn rất thấp, chỉ ở mức 4-5%, còn lại 95-96% thị phần vẫn thuộc về các tiểu thương nhỏ lẻ.

Không ngoài tình hình chung trên, thịt lợn vẫn được ưa thích tiêu thụ theo kiểu nóng, nhanh, phần nào hạn chế cạnh tranh từ thịt heo đông lạnh nhập khẩu. Người tiêu dùng Việt Nam phần lớn chưa quen việc tiêu thụ thịt làm mát hay đông lạnh mà giữ thói quen dùng thịt trong ngày và mua tại các chợ.

Thói quen tiêu dùng thay đổi?

Khác với thịt gà, thịt bò gần đây bắt đầu có các sản phẩm được đóng gói công nghiệp và bảo quản đông lạnh tại các siêu thị, thịt lợn bày bán tươi của các tiểu thương vẫn được ưa chuộng. Phần đông người tiêu dùng lựa chọn thịt lợn qua màu sắc, mùi và độ dẻo, độ nạc trong khi ít người quan tâm đến nguồn gốc, xuất xứ, do phần lớn không được đóng gói và trưng bày thông tin theo kiểu công nghiệp.

Theo phân tích của CTCK Rồng Việt (VDSC) về thị trường tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam, dân số và cơ cấu dân số cũng là một yếu tố quyết định đến xu hướng tiêu dùng mặt hàng thiết yếu chiếm tỉ trọng cao này.

Nhìn về quá khứ, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, dân số Việt Nam năm 2009 là 86,8 triệu người và tăng đều trên 1% mỗi năm, tương tự như mức tăng đều của tiêu thụ thịt lợn.

Theo VDSC, dân số trẻ độ tuổi 15-29 chiếm trên 25% cộng với tỉ lệ dân thành thị ở mức 33,1% (năm 2014) tạo đà cho xu hướng phát triển của thịt công nghiệp. Giới trẻ với nhu cầu tiêu dùng lớn và đang hòa nhập với xu hướng chung của thế giới hội nhập: sử dụng thức ăn nhanh, các loại thịt công nghiệp cũng vì thế mà được tiêu thụ mạnh.

Tổ chức Euromonitor báo cáo lượng tiêu thụ đồ ăn nhanh ở Việt Nam tăng trung bình năm ở mức 16,5% giai đoạn 2008-2013, đạt 11,3 ngàn tỉ đồng (2014). Thu nhập bình quân cũng góp phần ảnh hưởng lên nhu cầu tiêu thụ thịt lợn.

VDSC nhận định, các yếu tố từ phía nhu cầu người tiêu dùng đều dự báo tăng trưởng tốt và đều đặn cho tiêu thụ thịt lớn trong những năm tới.


Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Xem thêm bình luận
Tin khác